Tháng 09

19

2016

Vì sao có tới 3 bảng chữ cái trong tiếng Nhật?

 

Mỗi một ngôn ngữ đều có bảng chữ cái riêng, đối với Tiếng Việt thì chúng ta có 1 bảng chữ cái duy nhất là bảng chữ cái Latin, còn trong tiếng Nhật thì có tận 3 loại chữ khác nhau Kanji, Hiragana và Katakana.  Vậy vì sao tiếng Nhật lại có tới 3 loại chữ như vậy? Liệu có thể chỉ học 1 trong 3 loại chữ đó thôi có được không? Tại sao lại cần tới sự phức tạp tới vậy trong việc thể hiện chữ viết của người Nhật? Đặc điểm văn hóa Nhật Bản nào ẩn chứa trong những chữ viết này?

 

Lịch sử ra đời của chữ Kanji trong tiếng Nhật

Vào khoảng thế kỉ thứ 5, các nhà sư Trung Quốc đã mang các văn bản chữ Hán vào Nhật. Các văn bản này được viết bằng chữ Hán vào lúc đầu cũng được đọc bằng âm Hán. Tuy nhiên qua thời gian, hệ thống Hán văn (漢文, kanbun) xuất hiện - nó dùng văn bản chữ Hán với dấu thanh cho phép người Nhật đọc nó theo quy tắc ngữ pháp tiếng Nhật, từ đó hình thành bảng chữ cái Kanji như bây giờ

 

Bảng chữ Kanji

Trong tiếng Nhật, các danh từ và gốc của các tính từ và động từ thường viết bằng chữ Hán gọi là chữ Kanji. Các trạng từ cũng đôi khi được viết bằng loại chữ này. Điều này đồng nghĩa với việc để học được chữ Kanji trong tiếng Nhật bạn phải học các chữ tiếng Hán. Làm được điều đó, việc học tiếng Nhật đặc biệt với chữ Kanji sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn.

 

 

 

Mặc dù vậy, trong khi sử dụng người Nhật dần phát hiện ra những hạn chế của chữ Kanji. Khó khăn gặp phải là do tiếng Nhật là ngôn ngữ “chắp vá” vì vậy phải ghép vài âm tiết mới thành một từ trong. Thêm vào đó, ngữ pháp tiếng Nhật có những quy định khác nhau về cách chi thì của động từ, do đó chữ Kanji chưa thể hiện hết được những điều này.

 

Tuy nhiên chữ Kanji vẫn có những ưu điểm của riêng mình đó là: so với chữ Hiragana, Kanji sẽ giúp việc đọc của bạn trở nên dễ dàng và diểu hiểu hơn rất nhiều vì khi dùng Hiragana bạn khó mà biết được từ này bắt đầu và kết thúc ở đâu. Thêm vào đó, chữ Kanji cũng không tới mức quá khó học như bạn vẫn nghĩ.

 

Chữ Hiragana ra đời như thế nào?

Hiragana được phát triển từ man'yōgana (万葉仮名), tức là những chữ Hán được dùng để biểu diễn cách phát âm của người Nhật, bắt đầu hình thành từ thế kỷ thế 5. Dạng chữ hiragana bắt nguồn từ thảo thư của chữ Hán. Hiragana còn được gọi là kiểu chữ mềm của tiếng Nhật là kiểu chữ âm tiết truyền thống của tiếng Nhật, một thành phần của hệ thống chữ viết Nhật Bản.

 

Bảng chữ Hiragana

Hiragana là chữ viết ra đời sau Kanji nhằm khắc phục những khó khăn mà hệ thống chữ Kanji gặp phải trong việc thể hiện ngôn ngữ tiếng Nhật bằng chữ viết. Do đó nên có thể hiểu nhiệm vụ chính của chữ Hiragana là thực hiện chức năng ngữ pháp trong tiếng Nhật. Điều này giúp việc thể hiện của chữ viết tiếng Nhật trở nên đơn giản, dễ hiểu mà vẫn thực hiện đầy đủ chức năng ngôn ngữ của mình.

 

 

 

Tên gọi Hiragana được hình thành từ tiếng “hira” là “bình” và “gana” là “mượn tạm”. Từ đó có thể hiểu rằng, Hiragana là hệ thống chữ mượn tạm và hình thành bằng cách đơn giản hóa chữ ban đầu.

 

Còn chữ Katakana thì sao?

Khi sự giao lưu văn hóa phương Tây tới Nhật Bản ngày một nhiều và sâu sắc, việc phiên âm lại tiếng nước ngoài từ chữ viết Latinh sang tiếng Nhật bắt đầu gặp những khó khăn. Do có nhiều từ, người Nhật không tìm được chữ Kanji nào tương ứng để thể hiện do đó chữ Katakana ra đời nhằm giúp việc đọc phiên âm tiếng nước ngoài trở nên dễ dàng hơn.

 

Bảng chữ cái Katakana

Chính vì vậy mà trong 3 hệ thống chữ viết tiếng Nhật, Katakana được dùng chủ yếu cho việc ghi phiên âm các từ mượn từ tiếng nước ngoài. Nó cũng có thể được sử dụng để nhấn mạnh 1 từ nào đó giống như khi ta dùng chức năng chữ in nghiêng.

 

 

Mỗi bảng chữ cái đều có một lịch sử và quá trình phát triển, vai trò riêng trong tiếng Nhật, và cũng thể hiện một phần văn hóa Nhật Bản, để thấy rằng người Nhật luôn sẵn sàng tiếp thu cái mới nhưng luôn đề cao cái riêng của đất nước mình.

 

 

 

 Văn hóa và cuộc sống tại Nhật

 

Mọi thắc mắc xin vui lòng comment bên dưới hoặc liên hệ cán bộ phụ trách.

Để lại lời nhắn của bạn